Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 52

Tổng truy cập: 1360797

ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA

ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA(*)-  Suy niệm chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV Thường Niên Năm A nêu rõ: đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người.

Is 55: 6-9

Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị loan báo sự giải thoát sắp đến và kêu mời những người lưu đày tại Ba-by-lon thật lòng hoán cải ngõ hầu được Thiên Chúa thứ tha, bởi vì đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người.

Pl 1: 20-24, 27

Bài Đọc II trích từ thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê, trong đó thánh nhân bị giằng co thế đôi ngã: hoặc bị tuyên án tử, như thế được ra đi để được ở với Chúa; hay được phóng thích để tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng.

Mt 20: 1-16

Tin Mừng tường thuật dụ ngôn thợ làm vườn nho, trong đó Đức Giê-su viện dẫn tấm lòng xót thương của Thiên Chúa vượt lên trên sự công bằng giao hoán.

BÀI ĐỌC I (Is 55: 6-9)

Đoạn trích nầy là một trong những sứ điệp sau cùng của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị gởi đến những người Do thái lưu đày tại Ba-by-lon vào khoảng những năm 545-540 tCn, để báo tin cuộc giải phóng sắp gần kề, nhưng vài người trong họ nghi ngờ và nhụt chí. Trong sứ điệp sau cùng này, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị nhấn mạnh Đức Chúa là Thiên Chúa sẵn lòng tha thứ và là Đấng toàn năng.

*1.Thiên Chúa sẵn lòng tha thứ (55: 7-9)

Theo ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, thời gian cứu độ sắp tới gần phải là thời gian của cầu nguyện và hoán cải, vì vào lúc này Thiên Chúa ở bên dân Ngài gần gũi hơn bao giờ hết để giải thoái và cứu độ họ.

“Hãy tìm Đức Chúa, khi Người còn cho gặp, kêu cầu đi, lúc Người ở gần bên” (55: 6).

Đã gần năm mươi năm trôi qua kể từ cuộc phát lưu đầu tiên lúc mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết cho những người lưu đày hầu như theo cùng một cách: “Các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp. Ta sẽ đổi vận mạng của các ngươi và sẽ thu họp các ngươi về từ khắp các dân, từ mọi nơi Ta đã xua các ngươi đến” (Gr 29: 13-14).

Lòng hoán cải mà Thiên Chúa trông đợi là “trở về với Ngài”, Ngài là một vị Thiên Chúa luôn sẵn lòng tha thứ. Chân thành trở về với Thiên Chúa không gì khác hơn là tránh xa những tư tưởng gian tà, chấm dứt những việc làm gian ác:

“Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có” (55: 7).

 Đối với ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, cuộc trở về Giê-ru-sa-lem phải đồng nhất với cuộc trở về với Đức Chúa. Động lực tột cùng của niềm tin tưởng nầy mà những người lưu đày phải thấm nhuần đó là: Thiên Chúa là Đấng vô cùng độ lượng. Đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người. Tư tưởng của Thiên Chúa cao vời trên cõi trời cao thẳm, trong khi tư tưởng của con người ở tận chốn đất thấp. Bởi vậy, mỗi khi con người nghĩ rằng tội lỗi của mình quá nặng nề không thể nào được tha thứ, thì Thiên Chúa mặc khải cho họ biết Ngài rộng lượng từ bi đón nhận những kẻ tội lỗi khi họ quay về với Ngài, cũng như sẵn sàng trả công bội hậu cho con người vượt quá công sức của họ gấp trăm ngàn lần.

*2.Thiên Chúa là Đấng toàn năng (55: 9):

Ngôn sứ hoàn tất sứ điệp của mình bằng cách nhắc lại hình ảnh “trời cao đất thấp” để đánh dấu khoảng cách phân chia vô tận giữa con người và Thiên Chúa:

“Trời cao hơn đất chừng nào

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (55: 9).

Đây là ‎ý niệm truyền thống mà Đức Giê-su sẽ dạy cho chúng ta trong kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời” (Mt 6: 9).

Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã kết nối quyền năng cao vời khôn ví của Thiên Chúa với tấm lòng sẵn sàng tha thứ của Ngài. Con người nhỏ bé và mõng dòn, bởi vì chúng là kẻ tội lỗi trong khi Thiên Chúa thì cao vời khôn ví, bởi vì Ngài cưu mang những tư tưởng cứu độ.

BÀI ĐỌC II (Pl 1: 20-24, 27)

Thành Phi-líp-phê miền Ma-xê-đoan là thành phố Châu Âu đầu tiên đón nhận sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phao-lô thử mạo hiểm loan báo Tin Mừng trên lục địa nầy. Vào lúc đó, cộng đoàn Phi-líp-phê gồm một số ít là người Do thái và đa số là lương dân. Vào năm 49 hay 50, thánh nhân đến Phi-líp-phê, ngài luôn dành cho các tín hữu Phi-líp-phê một ân tình sâu sắc. Các tín hữu Phi-líp-phê giúp đỡ thánh nhân trong khi thánh nhân đang lâm cảnh túng thiếu. Chỉ duy từ họ mà thánh nhân chấp nhận giúp đỡ.

Thư gởi tín hữu Phi-líp-phê (chúng ta sẽ tiếp tục đọc nhiều trích dẫn thư nầy trong nhiều Chúa Nhật kế tiếp) hình thành nên một chứng liệu đặc biệt. Hơn bất kỳ thư nào khác, thư gởi tín hữu Phi-líp-phê vén mở cho chúng ta con người nội tâm của thánh Phao-lô, những đức tính và một tấm lòng gắn bó của thánh nhân vào Đức Ki-tô. Từ tính khí bộc trực, những lời khuyên bảo của thánh nhân lại chan chứa những niềm tin tưởng vô bờ.

Khi thánh Phao-lô viết thư nầy, ngài đang bị giam cầm, có thể ở Ê-phê-xô vào năm 55 hay 56. Thánh nhân không biết số phận đang chờ đợi ngài: hoặc bị kết án tử và như thế được ở với Đức Ki-tô, hay được phóng thích và lại tiếp tục sứ vụ của ngài. Sự giằng co đôi ngã, mà thánh nhân trình bày trong đoạn văn nầy, không là thế đôi ngã của sự chọn lựa. Rõ ràng thánh nhân nhắm đến thế đôi ngã nầy ở nơi lời kết luận ngay từ đầu: “Đức Giê-su sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết” (1: 20).

*1.Chết là một mối lợi.

Bị giằng co giữa hai đàng, hiển nhiên thánh nhân thích được chết hơn: “Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều nầy tốt hơn bội phần” (1: 23). Thánh nhân đã xác định mục đích của cuộc đời mình rồi: “sống là Đức Ki-tô”. Bên kia cái chết, hiệp nhất với Đức Ki-tô lại còn trọn vẹn hơn.

Nếu thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê nầy được viết giữa hai thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, như ngày nay người ta có khuynh hướng nghĩ như vậy, thánh Phao-lô hoàn tất tư tưởng của mình trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác nầy là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa…Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5: 6-8).

Trong đoạn trích nầy, tư tưởng của thánh Phao-lô rõ ràng nhuốm màu sắc tư tưởng Hy lạp, tuy nhiên, tất cả các thư khác của thánh nhân đều làm chứng rằng thánh nhân không hoàn toàn chấp nhận khía cạnh tiêu cực của nhị nguyên thuyết Hy lạp, tức là khinh bỉ thân xác. Trái lại, thánh nhân ca ngợi thân xác nầy là “đền thờ của Chúa Thánh Thần” và sẽ được sống lại vào ngày sau hết. Thánh nhân luôn nhắm đến sự hiệp nhất trọn vẹn với Đức Kitô sau khi chết, tuy thế, thánh nhân cũng không ngừng nói rằng sự hiệp nhất nầy vốn đã bắt đầu ngay từ cõi thế nầy rồi. Cuộc sống của người Ki-tô hữu vốn là đã được Đức Ki-tô chiếm đoạt rồi, là nơi Chúa Thánh cư ngụ cùng với chúng ta. Thần Học của Giáo Hội tiếp nối thánh nhân trên con đường nầy. Cái chết không gây nên một sự đứt đoạn cuộc sống chúng ta trong Đức Kitô.

*2.Nhu cầu loan báo Tin Mừng.

Nhưng thánh nhân bị giằng co đôi ngã. Dù thánh nhân mong ước được ra đi để được ở với Đức Ki-tô, tuy nhiên thánh nhân nói với các tín hữu Phi-líp thân yêu của ngài: “Ở lại đời nầy thì cần thiết hơn, vì anh em”. Vả lại, thánh nhân luôn luôn say mê theo đuổi sứ vụ loan báo Tin Mừng của ngài. Cuối cùng thánh nhân khuyên bảo họ: “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô” (1: 27).

TIN MỪNG (Mt 20: 1-16)

Dụ ngôn “thợ làm vườn nho” nầy đóng lại một loạt dụ ngôn về Nước Trời trong giáo huấn của Đức Giê-su ở Ga-li-lê. Một lần nữa Đức Giê-su cố gắng làm cho hiểu rằng điều xảy ra trong Nước Trời không giống chút nào với cách hành xử của con người. Đức Giê-su chủ ý chọn những ví dụ cực đoan để gây chú ý‎ ngõ hầu truyền đạt một sứ điệp khó khăn. Các dụ ngôn rất thuận tiện cho việc sử dụng lối ngoa ngữ, nhưng luôn luôn được sắp xếp làm thế nào hướng đến chủ điểm của dụ ngôn, để rồi từ đó bài học được rút ra.

Ở đây, sự thú vị của câu chuyện nằm ở nơi sự công phẩn của những người thợ được mướn từ sáng sớm. Mới đọc thoáng qua, dụ ngôn nầy như muốn loan báo lời Đức Chúa phán qua vị ngôn sứ của Ngài trong Bài Đọc I:

“Trời cao hơn đất bao nhiêu,

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi,

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu” (Is 55: 9).

*1.Thiên Chúa hoàn toàn tự do.

Thật vô l‎ý nếu người ta tiếp cận dụ ngôn nầy theo khía cạnh trần thế, vì Đức Giê-su rõ ràng dạy rằng Nước Trời không là tiền thù lao, nhưng là ân ban, theo đó Thiên Chúa hoàn toàn tự do định liệu, nhưng không là một kẻ chuyên quyền độc đoán; đây là một sự tự do được điều khiển bởi tình yêu. Lòng nhân ái của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán.

Tuy nhiên, chúng ta hãy khảo sát cách hành xử của con người với con người. Dụ ngôn nầy làm thương tổn đặc biệt đến độ nhạy bén của con người hiện đại, rất gai góc đối với vấn đề công bằng giao hoán. Tuy nhiên, dụ ngôn nầy xem ra gần gũi hơn với thế giới của chúng ta đang khủng hoảng, một thế giới đang quần quại sống trong nỗi đau của đa số người cố bám víu vào bất kỳ một công việc nào để sống cho qua ngày đoạn tháng. Họ chờ đợi suốt ngày bất cứ công việc nào để đổi mồ hôi lấy bát cơm. Ông chủ năm lần bảy lượt ra ngoài phố chợ mướn thợ vào làm vườn nho của mình, thậm chí cho đến lúc ngày sắp tàn. Đọc đoạn Tin Mừng nầy, chúng ta cảm thấy một sự đắc ý nào đó khi ghi nhận rằng những người thợ bất đắc dĩ được mướn sau cùng đã nhận được đầy đủ tiền công nhật để có thể nuôi sống gia đình trong một ngày nhờ vào tấm lòng rộng lượng của ông chủ vườn nho. Tiền công nhật được thỏa thuận là một đồng, đó là giá trị phải chăng để nuôi sống gia đình trong một ngày.

*2.Sống trong tư thế sẵn sàng:

“Chủ điểm” của dụ ngôn nầy được định vị ở nơi tư thế sẵn sàng của những người thợ giờ sau chót nầy. Họ chờ đợi suốt ngày trong sự nôn nao thấp thỏm và chỉ vào lúc xế chiều mới được mướn vào làm vườn nho. Nếu được thuê mướn sớm hơn, chắc chắn họ đã làm việc cho ông suốt ngày như bao nhiêu người khác.

Biết bao câu chuyện Tin Mừng theo cùng một hướng nầy: Đức Giê-su tìm kiếm những tấm lòng sẵn sàng nầy. Ngài tỏ mình ra cho người phụ nữ Sa-ma-ri, không vì công trạng của chị, nhưng vì Ngài đã phát hiện ở nơi chị một tư thế sẵn sàng đón nhận mặc khải của Ngài.

*3.Nổi bất bình của những thợ đầu tiên.

Những người thợ làm việc ngay từ sáng sớm ngạc nhiên trước tiền công mà ông chủ trả công cho những người thợ sau chót chỉ làm có một giờ vào lúc trời mát mẽ cũng bằng với những người thợ đã làm việc nặng nhọc suốt ngày trong cái nắng chói chang! Dụ ngôn có nhiều điểm tương tự với dụ ngôn của người con hoang đàng. Người con cả công phẩn trước cách cư xử của cha anh đối với người con út, kẻ lang bạt vừa mới chân ướt chân ráo trở về nhà cha, sau khi đã sống cho đến tận bùn nhơ của cuộc đời. Người con cả không hiểu nỗi tấm lòng của cha anh, bởi vì anh thiếu tấm lòng khoan dung rộng lượng.

“Nầy bạn” ông chủ trả lời với một trong những người bất bình. Trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su nhẹ nhàng quở trách Giu-đa, kẻ phản bội Thầy cũng một cách như thế: “Nầy bạn” (Mt 26: 50). Vị vua cũng quở trách người khách vào dự tiệc cưới mà không mặc áo cưới cũng một cách thế như vậy (Mt 22: 12).

*4.Công bình và lòng nhân ái:

Những người thợ được thuê từ sáng sớm bị quở trách vì thiếu tấm lòng nhân ái: “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghét tức?”. Không loại trừ rằng dụ ngôn có một hậu cảnh bút chiến nhắm đến nhóm Biệt Phái. Những người nầy tự hào tự phụ vì mình được mời gọi làm vườn nho cho Thiên Chúa trước tiên. Họ đã vất vã nhiều trong việc tuân giữ Lề Luật một cách nghiêm nhặt đến từng chấm từng câu nên khỉnh bỉ những kẻ thu thuế và phường tội lỗi, những người mà Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Văn hào Barnanos đã viết: “Nhân loại tự tách mình ra thành hai loại khác biệt tùy theo quan niệm mà người ta có về sự công bình. Đối với những người nầy, công bình là một thế cân bằng, một sự thỏa hiệp. Còn những người khác, nó như một sự thăng hoa, một sự đăng quang vinh hiển của lòng nhân ái.”

Dụ ngôn nầy cũng đề cao mầu nhiệm Giáo Hội: Ki-tô hữu là những người đến sau được gọi gia nhập Nước Trời. Dụ ngôn này đem đến một niềm hy vọng tuyệt vời cho lương dân, những người đã đón nhận lời mời gọi của tôn chủ chỉ sau một thời gian dài dân Ít-ra-en được tuyển chọn.

Nhưng đây cũng là một niềm hy vọng tuyệt vời cho những ai khám phá Thiên Chúa chỉ vào những giờ phút cuối đời mình. Ví dụ cảm động nhất chắc hẳn là câu chuyện của tên gian phi sám hối. Cả một đời gian phi nhưng chỉ một lời nói đầy cảm thương của anh vào giây phút cuối đời đã đem lại cho anh một lời hứa ngay tức khắc của Đức Giê-su: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Nước Trời” (Lc 23: 43).

 (*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN- A

LÒNG TỐT CỦA THIÊN CHÚA- Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

I)Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Nếu chúng ta tìm hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng rằng đã hiểu rất rõ lại không như ta tưởng; suy nghĩ của Ngài nhiều khi không giống suy nghĩ của chúng ta; cách đối xử của Ngài cũng lắm bất ngờ.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu Ngài hơn, và nhất là biết suy nghĩ và cư xử như Ngài.

II)Gợi ý sám hối

Chúng ta ít lo tìm hiểu Chúa nên đã không sống như Ngài.

Cách chúng ta đối xử với người khác dựa trên quyền lợi bản thân hơn là dựa trên lòng tốt.

Nhiều khi thấy một người khác được điều gì tốt, thay vì vui mừng, chúng ta lại khó chịu.

III) Lời Chúa

*1. Bài đọc I (Is 55,6-9):

Kẻ có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên trốn lánh Ngài. Mà càng trốn lánh Thiên Chúa thì càng lún sâu trong tội.

Qua lời ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa khuyến khích họ cứ an tâm trở về. “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi”: Ngài không nghĩ đến trừng phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Người không bắt tội mà chỉ thứ tha.

*2. Ðáp ca (Tv 144):

Tv này ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa, sự vĩ đại này chính là tấm lòng của Ngài: nhân hậu, từ bi, kiên nhẫn, xót thương và tốt lành với tất cả mọi người.

*3.Tin Mừng (Mt 20,1-16a):

Dụ ngôn này phản ảnh hai cách suy nghĩ:

Cách suy nghĩ của đám thợ làm vườn nho là suy nghĩ theo công bằng: kẻ làm ít giờ lẽ ra phải được lãnh ít hơn người làm nhiều giờ. Ðây cũng là suy nghĩ của loài người chúng ta.

Cách suy nghĩ của ông chủ vườn nho: vẫn trả đủ lương cho những người làm nhiều giờ, nhưng vì lòng tốt nên cũng trả cho người thợ làm giờ cuối cùng đủ một đồng. Ðây là cách suy nghĩ của Thiên Chúa.

*4. Bài đọc II (Pl 1,20c.24-27) (Chủ đề phụ):

* Trong các Chúa nhựt XXV-XXVIII, bài đọc II được trích từ thư Phaolô gởi tín hữu Philipphê.

Ðây là bức thư Phaolô viết trong khi bị cầm tù. Trong thời gian Phaolô ở từ, tín hữu Philipphê đã thường xuyên thăm viếng, trợ giúp và còn phái người tới chăm sóc cho Phaolô.

Trong đoạn thư này, Phaolô nghĩ đến hai tình huống:

Một là ông sẽ được tha tự do: khi đó ông sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, và Ngài sẽ được vẻ vang.

Hai là ông bị xử tử: cái chết của ông vì Tin Mừng cũng sẽ làm vẻ vang Ðức Kitô.

Vì thế Phaolô kết luận: “Dù tôi sống hay tôi chết, Ðức Kitô cũng sẽ được vẻ vang nơi tôi”

IV) Gợi ý giảng

*1. Tư tưởng của Thiên Chúa không giống tư tưởng loài người

Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán: món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào? bao nhiêu thì đúng, bao nhiêu thì sai?

Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà còn cho cả Thiên Chúa nữa: tôi đã làm gì và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn gì và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.

Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và chỉ dùng lòng tốt để đối xử. Ðối với từng đứa con, Ngài không xét xem nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất…

Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hãy làm một người buôn bán vô tình.

*2. Công bình và thương xót

Nhiều người đọc xong dụ ngôn này đã nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử không công bình vì Ngài đã trả cùng một đồng cho những người làm việc suốt ngày và người chỉ làm có một giờ.

Thực ra chẳng có gì là không công bình cả: Vì ông chủ đã thỏa thuận với thợ về tiền công mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không đủ một đồng thì mới bất công. Nói cho đúng hơn: đối với những người làm suốt ngày thì ông chủ công bình; còn đối với người làm chỉ có một giờ thì ông chủ đã đối xử hơn mức công bình: ông đối xử theo lòng thương xót.

Xem ra, đòi hỏi công bình là điều hợp lý. Nhưng xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu Chúa cứ theo công bình à đối xử với chúng ta, đúng như lời Thánh vịnh “Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được”. Cho nên, xét cho cùng thì chúng ta cần đến lòng thương xót của Chúa hơn là đến đức công bình của Ngài.

Vả lại, đối xử công bình là đối xử bằng lý, còn đối xử với lòng thương xót là đối xử theo tình. Mỉa mai thay, bất chính như con người thì hay đòi đối xử bằng lý, còn công chính như Thiên Chúa lại thích đối xử bằng tình.

Flor McCarthy đã chứng kiến một cảnh tượng tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông đã thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng kiến nó: có lần ông đến Cape Town nước Nam Phi. Ðó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một đám đông đứng ngoài đường không làm gì cả. Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những kẻ lười biếng, đang khi những người khác lo làm ăn thì những người này đứng đó chẳng làm gì cả. Ðến trưa ông vẫn còn thấy đám người ấy vẫn đứng đó, mồ hôi đã nhễ nhại ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ thì mới biết họ là những người thất nghiệp. Họ đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến thuê họ đi làm chăng. Mãi tới chiều ông vẫn thấy đám người đó. Và khi hết ngày, họ lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm đó McCarthy rất hối hận vì đã vội kết án những con người tội nghiệp ấy. Và ông đã soạn một lời cầu nguyện như sau:

“Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi

và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi”

“Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu

thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu”

Lạy Chúa

Tư tưởng chúng con rất nông cạn, đường lối chúng con rất hẹp hòi

Bởi vì trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.

Xin Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con

để chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động giống Chúa hơn.

Xin giúp chúng con đừng bực bội vì lòng tốt của Chúa đối với người khác

Xin giúp chúng con ý đừng cho rằng chúng con đáng được Chúa thưởng công

Xin giúp chúng con ý thức rằng chúng con cần đến lòng thương xót hơn là đức công bình của Chúa. Amen.

*3. Giờ thứ 11

Cuối đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết”.

Trong Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa: Một chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi Ðức Giêsu: tôi đã giữ các giới răn từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm gì thêm để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Lần kia Phêrô áy náy trình với Chúa: Thưa Thầy, này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy thì sao? Bồn chồn hơn nữa, hai người con Ông Dêbêđê nghĩ rằng mình thuộc số môn đệ đi theo Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho mình hai chỗ tả hữu trong Nước của Ngài. Nhưng, đối với những “kẻ trước hết” ấy, Ðức Giêsu đã không dành hai chỗ tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên trộm cướp. Ðúng vậy, hai “kẻ sau hết” này đã ở hai bên tả hữu của Thập giá.

Nói “trước hết” và “sau hết” là tính theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính bằng thời gian mà bằng sự gắn bó tình yêu.

*4. Hãy có một não trạng mới

Ðiểm sâu sắc nhất của dụ ngôn những người thợ vườn nho là đặt đối lập nhau hai não trạng:

a/ Não trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc tính toán: làm gì cũng là để tính công, công càng nhiều thì phải được hưởng càng nhiều.

Ðây là não trạng của đa số tín hữu chúng ta. Chúng ta tính toán mình đã giữ đạo bao nhiêu năm, đọc kinh dự lễ bao nhiều lần, làm việc lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.

Với não trạng ấy, chúng ta chăm chăm nhìn đến những việc mình đã làm và cứ bo bo nhìn vào sổ thu của mình. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối đời (hết ngày làm việc), trình quyển sổ thu đó cho Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng ơn cứu độ và thanh toán sòng phẳng cho chúng ta.

Nhưng trong não trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa là ai, liên hệ giữa Thiên Chúa và ta là gì? Ta chỉ là người làm công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai bên là hợp đồng làm ăn.

Sống đạo theo não trạng này thật là nặng nhọc và vô tình vô nghĩa.

b/ Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm công.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Người thì hoàn cảnh này (đứng trước vườn nho từ sáng sớm), người thì hoàn cảnh khác (đứng trước vườn nho khi đã gần hết ngày), nhưng người nào cũng được Thiên Chúa thương và ban cho ơn cứu độ (được vào vườn nho, được lãnh một đồng).

Não trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm nhận tình thương ấy và đáp lại tình thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm được nhiều hay làm được ít, chịu cực khổ nhiều hay ít.

Cần phải thay đổi não trạng: sống đạo không bằng tính toán mà bằng cả tấm lòng.

*5. Chuyện minh họa

Ðây là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.

Lúc bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm nhỏ đã tách rời đám đông và chạy phía trước. Còn vài chục mét nữa thì một người vọt lên rất nhanh và tới đích.

Khán giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp hình tới, vừa bấm máy, vừa thu hình, vừa phỏng vấn. Những người hâm mộ tới xin chữ ký. Một số hãng thương mại đến đề nghị ký hợp đồng với nhà vô địch.

Cuối cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện. Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên một chiếc bục cao, người hạng nhì đứng trên bục bên phải thấp hơn một chút, và người hạng ba bục bên trái thấp hơn chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy chương để ông chủ tịch đeo vào cổ họ.

Nhưng ông chủ tịch ngỏ ý muốn gặp 3 người tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu, nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho người hạng chót, chiếc huy chương bạc thuộc về người áp chót, và chiếc huy chương đồng cho người kế tiếp.

Nhà vô địch bực bội phản đối:

– Như thế là không công bình!

– Tại sao? Ông chủ tịch hỏi lại.

– Tôi hạng nhất, tôi phải được thưởng.

– Thì anh đã được thưởng rồi. Này nhé khán giả đã vỗ tay hoan hô anh, báo chí đã chụp hình anh, những người hâm mộ đã tặng hoa cho anh, những hãng thương mại đã ký hợp đồng với anh. Anh đã được thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hãy nghĩ tới những người chạy sau chót: họ cũng cố gắng như anh, vất vả không kém gì anh, và cũng chạy hết đoạn đường 3000 mét như anh. Anh thử nghĩ xem có công bình không khi anh thì được tất cả còn họ thì chẳng được gì?

  1. V) Lời nguyện cho mọi người

CT: Anh chị em thân mến

Thiên Chúa là tình yêu. Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1-Chúa Giêsu đã giao cho hàng Linh mục sứ mạng rao giảng Tin Mừng / và cử hành các bí tích mà phục vụ dân Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các ngài luôn trung thành / khôn ngoan và nhân hậu.

2-Trên thế giới ngày nay / hình như lòng khoan dung không còn ngự trị trong các sinh hoạt trần thế / do đó con người vẫn còn điên cuồng tàn sát lẫn nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lòng khoan dung ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời sống con người.

3-Hiện tại có biết bao người đang âm thầm hy sinh cả cuộc đời trên cánh đồng truyền giáo / để giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa giữ gìn / và nâng đỡ những anh chị em ấy / giữa muôn vàn thử thách trong đời sống chứng nhân của mình.

4-Tính ganh tị làm cho con người trở nên mù quáng / hẹp hòi / ích kỷ / thậm chí vu khống để bôi nhoi danh dự / để hạ người khác xuống / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết can đảm sửa chữa tận gốc tật xấu kinh niên này.

CT: Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết sống như Chúa: luôn cư xử quảng đại và khoan dung với hết thảy mọi người, nhờ đó chúng con sẽ nên hoàn thiện như Chúa Cha trên trời. Chúa hằng sống và hiển trị…

VI)Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Chúng ta đây, kẻ thì biết Chúa vào giờ thứ nhất, người thì chỉ mới biết Ngài vào giờ thứ 11. Nhưng Chúa đã thương tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta làm con trong nhà Ngài. Vậy tất cả chúng ta hãy trìu mến dâng lên Ngài lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy.

VII) Giải tán

Thiên Chúa đối xử với mọi người bằng lòng tốt. Xin Chúa giúp anh chị em ra về cũng đối xử bằng lòng tốt với mọi người.

home Mục lục Lưu trữ